Nhớ mãi cái buổi chiều tối ấy
16:52', 8/2/ 2009 (GMT+7)

* Hồi ký của Vũ Ngọc Liễn

1.

Cơm nước xong, tôi đốt điếu thuốc hút, đốt luôn cây đèn dầu dừa cùng một que diêm.

Thuốc tôi hút là loại “thuốc mắm”, loại thuốc do mẹ tôi đổi bằng mắm chứ không mua bằng tiền. Mỗi năm đổi một lần với số lượng vừa đủ cha con tôi đốt trong năm. Chẳng là có ông nông dân (quên tên) chuyên trồng thuốc lá ở làng Thuận Phong huyện Phù Cát giao hẹn với  mẹ tôi rằng hằng năm cứ đến mùa thu hoạch thuốc lá ông ấy gánh xuống nhà tôi đổi lấy mắm mang về, đây là loại thuốc sợi nâu, nghe nói do xưởng thuốc “Mic” sản xuất ở An Khê chọn giống từ Pháp đưa sang trồng ở Thuận Phong, vì nơi đây thuộc vùng đất chuyên trồng củ mì, người ta dùng nước ngâm củ mì (để mài bột) tưới lên cây thuốc nên chất lượng thuốc rất thơm ngon. “Thể lệ” trao đổi như thế này: Một lu mắm đổi một lu thuốc, nghĩa là một đổi một. Vớt hết mắm trong lu ra, rửa lu, đợi lu khô xếp thuốc lá vào đầy như mắm. Thế mới biết thuốc lá Thuận Phong mà đựng vào lu muối mắm cá cơm gọi là “muối bĩ” thì cái vị thơm ngon của nó rất khác thường, những “con ngựa”, “555”, “Craven A” bây giờ không sánh được đâu, đừng nghi ngờ lời tôi nói.

 

Bên dòng sông Gò Bồi hôm nay.

 

Thời kháng chiến chống Pháp chín năm, Bình Định như một ốc đảo, hai đầu bị giặc chiếm, kinh tế bị giặc bao vây, thiếu thốn đủ điều, chỉ cậy vào nền kinh tế “tự túc tự cấp” mà sống, mà nuôi toàn bộ chiến trường nam trung bộ, phải tiết kiệm từng que diêm. Nhưng tiết kiệm đến mức nào đi nữa thì ban đêm cũng phải có ánh sáng để làm những việc mà ban ngày không thể làm được chứ, không có dầu hoả thì thắp dầu dừa, bà con nói đốt đèn bằng dầu dừa mát con mắt hơn. Có điều là phải thiết kế một loại đèn thích hợp với nhiên liệu. Ở bên vũng bấc (tức thôn Hưng Lương) có ông Hương  bộ Chẩm sáng chế cây đèn thắp dầu dừa bằng cách cưa cắt các loại chai cũ lấy đoạn đáy rồi dùng sợi thép cuộn tròn vừa lỗ xỏ bấc, bẻ cong sợi thép móc bên trong, đơn giản mà tiện lợi hơn cây đèn “Hoa Kỳ”  thắp dầu hoả, quá rườm rà… sản phẩm bán khắp nơi được mọi người ưa chuộng. Xứ “nẫu” quê tôi vốn là đất cây dừa mà, các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, và nửa Phù Mỹ là  vùng chuyên canh cây dừa nên nhiều cô gái trẻ có nước da đẹp lạ.

2.        

Mới 18, 19 giờ mà trời tối om, gió nồm thổi mạnh, tôi phải cài các tấm phênh ngoài hè ngăn gió lạnh, vậy mà chợt nghe có tiếng gõ cửa…

- Ai đấy? Tôi hỏi.

- Tôi, Sáu Trọng đây, anh Liễn!

Thực ra, nghe cái giọng khê khê không cần xưng tên, tôi đã biết ngay  là Sáu Trọng rồi. Tôi mở cửa…

- Ủa, làm sao mà thế này? Tôi ngạc nhiên.

- Đói lắm! Cho ăn rồi sẽ nói - Trọng  đáp.

Nhà tôi đang ru con ngủ, tôi gọi dậy:

- Mình ơi! Có anh Sáu Trọng đến, mình nấu cơm dọn ảnh ăn.

- Nồi cơm còn đủ một người ăn, đợi tôi hâm lại thức ăn là được. Hình như nhà tôi đã nghe hết những lời anh Trọng vừa nói.

Hồi ấy nấu rượu và uống rượu cấm ngặt lắm! Có khẩu hiệu “uống rượu là uống máu” mà. Tuy vậy tôi vẫn xoay xở được một xị cho Sáu Trọng nuốt trôi miếng cơm lỡ bữa. Vừa ăn vừa nói chuyện, thì ra anh chọn thời điểm chập choạng tối mới dám ra đường đi đến nhà tôi, vì rằng trên người anh chỉ mặc mỗi một bộ đồ võ sĩ đánh dao găm của sân khấu hát Bội thời “hát trường”, quần dài đen có sọc trắng như quần thể thao bây giờ, còn áo thì  như áo lá, mầu sắc rằn ri, tất nhiên vớ tạm của chủ gánh hát nào rồi. Con người của công chúng như anh mà mặc thứ quần áo không lấy gì tử tế đi đường coi sao được. Anh tâm sự: “Mọi thứ mình có, bán hết  rồi, thứ này mượn mặc tạm. Hôm nay tìm đến anh để nhờ tổ chức cuộc hát chừng một tuần kiếm ít tiền may quần áo mặc!”. Tôi nghiện thuốc lá đến mức đi “tập kết” nhà tôi chuẩn bị cho tôi mang theo một bó dễ đến 20 kg, đủ hút hai năm rồi về cơ; còn Sáu Trọng thì say đắm nàng tiên nâu đến nỗi không có áo quần  mà mặc. Tình thế thê  thảm quá! Tôi mời anh Nguyễn Thông, anh Nguyễn Tư chánh phó chủ tịch UBHC xã đến nhà tôi cùng bàn với xã đội trưởng Nguyễn Đình Mại ngay trong đêm, thấy cảnh ngộ của Sáu Trọng ai cũng thương  nhưng “quĩ xã đội hiện còn trên 500 vuông lúa (hơn 10 tấn) gửi ở thôn Phú Hậu, lại đang lúc tối trời mọi người đều ra biển đánh cá,  hát ai coi? Động chạm đến  thời vụ làm ăn của dân mang tiếng lắm”,  Nguyễn  Đình Mại chậm rải trình bày. Chuyện hát xướng lâm vào bế tắc, Nguyễn Tư đột ngột đề xuất: “Bao năm nay, những lúc chúng ta khó khăn, hô một tiếng, các  anh các chị ấy không hề từ chối, bỏ hát nơi khác đến giúp chúng ta, 500 vuông lúa hiện còn cũng từ hát Bội mà có, giờ đây anh Trọng đang gặp biến cố ta bó tay nhìn ư ? Vả lại dân ra biển làm đêm không phải đi cùng lúc, có nghề  đi sớm, có nghề phải  đến 11, 12 giờ  đêm  mới đi.  Đàn bà hầu hết ở nhà lo gì không có ai xem. Theo tôi cứ tổ chức, nhưng phải với điều kiện như thế này mới mong có kết quả tốt: hiện giờ các anh Ba Số, Tư Cá, Cửu Vị, Hoàng Chinh, và các chị Minh Đức, Ngọc Cầm… đều có mặt trong gánh hát ông Mười Đậu đang trụ diễn tại trường Gò Bồi, nếu anh Sáu lôi được họ về đây diễn thì mới mong đông người  xem”. Ý kiến của Nguyễn Tư kết thúc cuộc toạ đàm chớp nhoáng. Nguyễn Đình Mại lo việc điều động dân quân che rào rạp hát, tôi dẫn Sáu Trọng đến nhà may ông Chín Hội để đo may vài bộ bà ba vải ta cho kịp sáng sớm Sáu Trọng đi Gò Bồi. Sau này gẫm lại cái chuyện đo may quần áo vào ban đêm mà buồn cười, rất giống cái cảnh may đồ đám tang cho kịp giờ lịm vào quan tài  vậy.

3.

Hồi đó các xã trong tỉnh Bình Định đều dựa vào đấu giá ruộng công điền mà thu ngân sách xã. Khoản chi ngân sách xã lớn nhất là nuôi dân quân luyện tập.

Xã Cát Xương, tức Nhơn Lý ngày nay là xã miền biển, công điền được phân rất ít, lại nằm ở đất nhiễm mặn thôn Phương Phi nên đấu giá chẳng được là bao, buộc chúng tôi phải nghĩ đến cách xây dựng đoàn hát Bội của xã để làm quĩ riêng cho xã đội nuôi dân quân tập luyện suốt chín năm. Thành viên đoàn hát Bội xã Cát Xương gồm những cán bộ xã biết hát vỏ vẻ như chúng tôi cộng với một số nghệ sĩ chuyên nghiệp như Hoàng Chinh, Quách Đán, Sáu Trọng, Tư Cá, Ngọc Cầm, Minh Đức…mời đến diễn không định kỳ. Kết quả thu  được mỗi cuộc hát chia đôi: phần cho quĩ xã đội; phần chia cho diễn viên, chúng tôi nhường hết cho các nghệ sĩ chuyên nghiệp được mời. Tôi rành nghề hát Bội từ môi trường này.

4.

“Hát Vũng” cố nhiên là thu nhập cao gấp đôi, gấp ba lần hát trường của  gánh ông Mười Đậu. Ngoài tiền chia chung còn có tiền thưởng riêng. Sau khi Sáu Trọng lên Gò Bồi bàn bạc với các đồng nghiệp xong, anh làm nhiệm vụ canh gác, chốt chặn các ngõ ngách để các bạn nghề trốn đi trước, đợi họ qua khỏi “đò Vũng” anh sẽ chuồn sau. Nào ngờ độ 12 giờ ông Mười Đậu phát hiện Sáu Trọng lôi kéo hết đào kép chủ chốt của ông đi diễn nơi khác. Thiếu vắng lực lượng này trường hát Gò Bồi coi như đất  trống, vắng tanh, ông Mười phải nuôi cơm hằng ngày một đàn “tàu há  mồm” không việc làm, dễ đến hai ba chục miệng ăn, ông tức điên người. Ai cũng biết Mười Đậu là võ sĩ cao cường của đất Bình Định thời đó, ông sục tìm thấy Sáu Trọng còn lẫn tránh quanh chợ Gò Bồi ông doạ đánh. Trọng la toáng khắp chợ rằng ông Mười Đậu ỷ võ giỏi đánh anh sắp chết rồi bà con làng nước ơi… Cái giọng bù lu bù loa của Sáu Trọng giống hệt cái trò ăn vạ của lão thầy Nghêu trong vở tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến, người ta chưa đánh đã kêu  đau. Ấy vậy mà con người cứng rắn như Mười Đậu đành chịu thua cái phép ăn vạ của Sáu Trọng đấy.

5.

Lượng trời cao minh, che chở cho các sinh mệnh ham vui như bọn tôi, sau năm 1975 gặp lại nhau ở Quy Nhơn, tất cả đều khoẻ, chỉ thiếu vắng hai người: chị Minh Đức qua đời ở Hà Nội, anh Quách Đán (tức Ba Số) qua đời ở quê trước giải phóng. Tư Cá, Hoàng Chinh, Ngọc Cầm tham gia vào Đoàn Tuồng Nghĩa Bình một thời gian rồi chia tay vì nhiều lẽ không tiện kể ra đây.

Bây giờ Long Trọng, Tư Cá, Hoàng Chinh, Cửu Vị đều lần lượt rủ nhau đi xa, chỉ còn mỗi Ngọc Cầm thường lui tới ôn nghèo kể khổ với tôi bao nỗi băn khoăn về nghề tổ.

Ngày Trần Long Trọng qua đời mãi đến bốn hôm sau tôi mới biết nhờ có Phan Ngạn báo tin. Tôi vội viết vài dòng điếu anh:

Anh khóc cho đời vui chốc lát

Anh hát cho đời bớt xốn xang

Anh xa bè bạn trong im lặng

Chọn chốn gửi mình núi Thiên San

Thiên San là tên chữ của núi Bà Hoả ở Quy Nhơn. Vợ con anh thuê thợ đá khắc lời điếu của tôi vào bia mộ anh .

Quy Nhơn ngày cuối cùngcủa năm Mậu Tý (25.01.2009)

  • VNL
In trang Gửi phản hồi

CÁC TIN KHÁC >>
Tái hiện cuộc sống người Việt cách đây 21.000 năm  (08/02/2009)
Núi rừng mở hội  (08/02/2009)
Diêu Trì đệ nhất lân sư rồng   (07/02/2009)
Ngư dân tổ chức lễ hội cầu ngư   (07/02/2009)
Lễ hội kỷ niệm 50 năm ngày khởi nghĩa Vĩnh Thạnh   (07/02/2009)
Vĩnh Thạnh nôn nao chờ giờ khai hội  (06/02/2009)
Tái hiện Thăng Long bằng đồ họa 3D  (05/02/2009)
Hai sinh viên Đại học Quy Nhơn cùng đoạt giải Nhì  (05/02/2009)
Văn học Bình Định: xưa và nay  (05/02/2009)
Xuất xứ tà áo dài Việt Nam  (03/02/2009)
Một bộ phim hài hước hấp dẫn người xem  (03/02/2009)
Hoài niệm cafe rock  (03/02/2009)
Nhận thức mới về tháp Dương Long  (03/02/2009)
“Vua” ấn triện  (02/02/2009)
Tôn vinh tác giả bức ảnh chống chiến tranh Việt Nam   (01/02/2009)