Phòng bệnh Rubella
8:12', 7/12/ 2006 (GMT+7)

Bệnh Rubella (đôi khi được xem như là bệnh sởi Đức) gây phát ban gần giống bệnh sởi nhưng nguyên nhân gây bệnh là do nhiều loại virus khác nhau. Virus Rubella thuộc họ Togaviridae có đặc điểm gây dị tật cho thai nhi ở phụ nữ có thai với tỉ lệ bằng hoặc hơn 25%, nhất là vào ba tháng đầu của thai kỳ. Nguồn bệnh cũng chỉ có ở người bệnh và thường xảy ra ở lứa tuổi đến trường (5-9 tuổi), ở người lớn không có miễn dịch chiếm khoảng 10% dân số.

Bệnh Rubella thông thường có ba dấu hiệu chính là sốt, nổi hạch, phát ban ngoài da và niêm mạc.

Đáng lưu ý là thể Rubella bẩm sinh tiến triển với đặc tính là trẻ đẻ ra đã có virus Rubella trong cơ thể, ở các phủ tạng, hầu nên là nguồn lây thường bị bỏ qua. Thời gian tồn tại của virus là 6 tháng. Ở thể Rubella này thường có ngay 1 dị tật bẩm sinh nhưng do virus tiếp tục hoạt động gây thương tổn nhiều phủ tạng: gan, lách to, vàng da, viêm màng não, viêm cơ tim, tổn thương xương và 1/5 trường hợp dẫn đến tử vong.

Rất khó phòng bệnh bằng cách ly vì 7-10 ngày trước khi phát ban người bệnh đã làm lây nhiễm ra cộng đồng; khi có dấu hiệu phát ban hoặc các dấu hiệu khác thì còn gây lây nhiễm 10-15 ngày nữa. Rất nhiều người bị nhiễm virus Rubella mà không hề có triệu chứng lâm sàng. Trẻ sơ sinh mắc Rubella bẩm sinh là nguồn lây quan trọng vì có thể lây nhiễm cho người tiếp xúc kéo dài 4-6 tháng từ khi sinh ra. 1/10 phụ nữ có thai có thể bị lây nhiễm nếu không được tiêm chủng vaccine Rubella từ trước.

Qua các vụ dịch trước khi có tiêm chủng Rubella thì khả năng lây truyền và hậu quả phụ thuộc vào mẹ mắc bệnh ở tuần thứ mấy của tuổi thai. Tuổi thai 0-8 tuần: 85% thai nhi có dị tật, tuổi thai 9-12 tuần 52% thai nhi có dị tật, tuổi thai 13-20 tuần 16% thai nhi có dị tật, tuổi thai từ 20 tuần trở lên thì hầu như thai nhi không còn có dị tật. Hội chứng Rubella bẩm sinh với một số dị tật như chậm phát triển tâm thần (não bé), đục thủy tinh thể hai bên, đục giác mạc, điếc, tim bẩm sinh.

Vấn đề điều trị bệnh Rubella hoàn toàn là điều trị triệu chứng bằng hạ sốt. Các thể có biến chứng cũng thường tự khỏi. Quan trọng nhất là thể Rubella bẩm sinh và các dị tật thai nhi thì không có phương pháp điều trị hữu hiệu nào.

Do nguồn lây không xác định nên việc phòng ngừa bệnh Rubella không áp dụng vấn đề cách ly và khu trú vùng dịch được mà chỉ có tiêm chủng vaccine. Vaccine thông dụng hiện nay kết hợp phòng ngừa cho cả ba bệnh sởi, quai bị, Rubella, chứa những loại vaccine hiệu quả và an toàn cho từng loại bệnh (MMR vaccine). Trẻ em được khuyến cáo tiêm ngừa MMR vaccine lúc 12-15 tháng tuổi và thêm một liều nhắc lại lúc 4-6 tuổi, thời điểm trước khi đi học. Việc tiêm ngừa rất quan trọng đối với trẻ em gái để phòng bệnh Rubella trong suốt thời gian đứa trẻ lớn lên và mang thai sau này.

  • Thạc sĩ Trình Công Tuấn (Trung tâm YTDP tỉnh)
In trang Gửi phản hồi

CÁC TIN KHÁC >>
Cedasit cấp bằng tốt nghiệp cho 30 học viên  (06/12/2006)
Nhơn Hội: Sìa nuôi bị chết hàng loạt  (06/12/2006)
Cứu sống một con voọc chà vá chân xám  (05/12/2006)
Nghề ấp trứng vịt: Vừa làm vừa lo  (01/12/2006)
Hiệu quả thiết thực  (30/11/2006)
Đánh giá trình độ công nghệ: Cần đưa ra những tiêu chí cụ thể  (30/11/2006)
Xóm “răng đen” sẽ cười tươi  (29/11/2006)
Mưa đá có thể xuất hiện ở ven biển Trung Bộ  (28/11/2006)
Số trường hợp có HIV/AIDS tiếp tục tăng  (27/11/2006)
Một người chết vì ngộ độc cá nóc  (26/11/2006)
Đất sét polyme hóa: Vật liệu mới có khả năng ứng dụng rộng rãi  (23/11/2006)
Sản xuất thành công vắcxin phòng cúm H5N1 ở người  (23/11/2006)
Luật khẳng định HIV/AIDS là một căn bệnh  (23/11/2006)
Mổ mắt bằng phương pháp lasik: Không thể muốn là mổ!  (22/11/2006)
Diễn biến thuận lợi cho ông Tám Tha và làng nghề  (21/11/2006)