2. Võ cổ truyền Bình Định hình thành dựa vào thao tác lao động của con người và tính năng vận động của các loài vật.
* Võ cổ truyền Bình Định hình thành dựa vào thao tác lao động của con người:
Bình Định xưa kia là một vùng núi rừng trùng điệp, đời sống của người dân muôn vàn khó khăn. Nguồn sống chính dựa vào lao động săn bắt thú rừng, chọt lỗ trên sườn đồi để trồng trỉa lúa, ngô, cày, cuốc, khai phá núi rừng để làm nương, làm ruộng. Người miền biển đôi tay chèo chống, buông lưới, kéo neo. Do yêu cầu thao tác lao động, từ đó tự nhiên hình thành một số động tác võ tay không đơn giản. Theo sự phát triển của cuộc sống, thao tác lao động dần dần được cải tiến, sức lao động của con người cũng được hợp lý hóa, dẫn đến năng suất lao động được nâng cao từng bước, các động tác võ tay được vận dụng ngày càng thuần thục hơn.
Người miền núi thường leo trèo vượt núi qua đèo, khai phá núi rừng để làm nương làm rẫy, có đôi chân rắn chắc, khỏe, chạy nhanh. Người miền xuôi đi bộ, chạy nhảy. Từ thao tác lao động đơn giản của đôi chân cũng đã hình thành động tác võ đơn giản như: di chuyển, đá, trụ rồi chuyển dần thành bộ ngựa ngày càng linh hoạt hơn.
* Từ những tính năng vận động của những loài động vật mà hình thành các động tác võ cổ truyền Bình Định:
Nhiều nhà nghiên cứu đã nhiều lần quan sát các động tác, sự di chuyển linh hoạt của các loài động vật. Mỗi một loài có những đặc điểm riêng của chúng.
Ví dụ: Các loài chim thường bay nhảy trên những cành cây, bay từ nơi này sang nơi khác. Cũng có những loại chân cao như: cò, hạc thường đi lẫm đẫm trên đồng ruộng hoặc sông ngòi để săn tìm tôm, cá. Có những loài bò sát trên mặt đất như: trăn, rắn... Cũng có loài dùng sức mạnh thường núp bóng để săn bắt mồi như: hổ, báo, chó sói... Từ những động tác đó, người ta đã hệ thống hóa, chọn lọc, đúc kết, biên soạn ra một số bài quyền như: Long, xà, hầu, phụng, kê, quyền... theo phương pháp mô phỏng.
Võ cổ truyền Bình Định cũng theo cách đó biên soạn ra một số thế võ, bài võ để tự vệ và chiến đấu, từ đó được lưu truyền rộng rãi ở Bình Định từ đời này sang đời khác. Cụ thể như bài "Hùng Kê quyền" của Nguyễn Lữ. Tương truyền ông đã nghiên cứu, hình thành bài "Hùng Kê quyền":
Lưỡng kê giao nạp thủy tranh hùng
Song túc tề phi trảo thượng xung
Trấn ải kim thượng như bạch hổ
Thủ quan ngân kiếm tự Thanh Long
Xuyên hầu độc tiễn tàng ư trát
Hồi thủ đơn câu thủ tự hung
Khiêu, tẩu, dược, trầm, thiên sở tứ
Nhu, cương, cường, nhược, tận trung kỳ.
Qua bài võ tiêu biểu nói trên cho thấy võ cổ truyền Bình Định đã chú trọng, nghiên cứu, quan sát những động tác của các loài vật và đưa vào kết cấu các bài võ của mình.
Ví dụ một trường hợp khác: Bài roi Thái Sơn có lời thiệu:
Thái Sơn trích thủy địa Xà liên
Thương thượng Lộng ky, lân thoái bạch Viên
Huy ky độc giác trung bình hạ
Thượng thích đại đăng tấn thừa Thiên
Hồi đầu trực chỉ liên tam thích
Đồng tân thuận thế giáng vân biên
Tẩu độc thố, Trưng sơn hoành gián kiếm.
Linh miêu mai phục tấn thích ngưu
Thừa châu bố địa khai côn thích
Hồi tiểu kim kê đả trung lan
Phi phong tẩu vũ khai ngưu giác
Tiểu tử tam phiền giá mã an
Bái Tổ sư, lập như tiền.
Một bài roi được cấu tạo từ động tác của tám con vật: rắn, lân, tê giác, thỏ, mèo, trâu, gà và ngựa là một hiện tượng độc đáo, hiếm thấy. Thông thường, người ta dùng tên một con vật để cấu tạo thành một bài quyền như: xà quyền, long quyền, hổ quyền, hầu quyền... chứ ít khi vận dụng kết hợp nhiều con vật để cấu tạo một bài quyền như bài roi Thái Sơn.
. Theo Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định |