Linh phong tam kiệt
1. Mai Xuân Thưởng (tiếp theo)
16:19', 27/2/ 2004 (GMT+7)

Từ ngày khởi nghĩa, Mai Nguyên soái chỉ mới nắm được lòng dân trong ba phủ huyện là Bình Khê, An Nhơn, Phù Cát. Còn từ Phù Mỹ trở ra thì các tầng lớp nhân dân đều hướng về Tăng Doãn Văn tụ nghĩa binh chống Pháp tại dãy Kim Sơn, huyện Hoài Ân. Nguyên soái cử Nguyễn Đức Nhuận và Bùi Điền ra cầu xin hợp tác. Tăng Doãn Văn chấp nhận ngay, rồi theo thượng đạo và Lộc Đổng hội kiến cùng Nguyên soái. Hai bên phân công, họ Mai lãnh trách nhiệm phía Nam, họ Tăng lãnh trách nhiệm phía Bắc. Lại cử Bùi Điền và Nguyễn Ánh ra lập chiến khu tại núi Chớp Chài, huyện Phù Mỹ.

Bắc Nam hợp nhất, lực lượng nghĩa quân trở nên hùng hậu thập bội. Nhưng cấp lãnh đạo hiểu rằng cuộc kháng chiến chống thực dân, nếu ở tỉnh nào làm theo tỉnh nấy thì thế cô lực bạc, cần phải liên kết các tỉnh lại với nhau, mới đủ sức thắng địch, bèn một mặt cử nguyễn Trọng Trì vào các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận để liên lạc cùng các đảng Cần Vương trong đó, một mặt cử Bùi Điền đem quân ra đánh Nguyễn Thân để mở đường liên lạc cùng nghĩa binh lưỡng Quảng.

NguyểnTọng Trì và Bùi Điền lên đường vào đầu xuân năm Bính Tuất (2-1886).

Nghĩa binh Phú Yên do Lê Thành Phương, Nguyễn Văn Thành, Trương Chánh Đường lãnh đạo. Nghĩa binh Khánh Hòa do Trịnh Phong, Trần Đường, Nguyễn Khanh chỉ huy. Nhờ quen biết với Bùi Quảng, một nhân vật trong nghĩa binh ở Phú Yên và Nguyễn Khanh ở Khánh Hòa, Nguyễn Trọng Trì hoàn thành sứ mạng được dễ dàng. Nghĩa quân Khánh Hòa lại cho người vào vận động ở Bình Thuận, được Ung Chiếm hưởng ứng và thề một lòng sống chết cùng Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.

Còn Bùi Điền, ra đến Quảng Nghĩa thì bị thất trận.

Ở mặt Nam, trước một kẻ thù đông hơn và khí giới tinh xảo hơn, nghĩa quân dùng chiến thuật tự vệ, lấy trung can nghĩa khí bổ khuyết cho những thiếu thốn về phương tiện vật chất. Khiếp đảm về trận Đồng Vụ, thực dân không còn dám hành quân lên Bình Khê. Nhưng ở vùng Tuy Phước, An Nhơn…, hễ dọ biết được nơi nào có nghĩa quân thì chúng kéo đến đánh dẹp. Nghĩa quân lúc nào, nơi nào đánh cũng hăng và nhờ sức ủng hộ của đồng bào, giặc luôn bị tổn thất. Chúng khiếp phục dũng cảm và đức hy sinh của nghĩa binh. Từ đầu xuân đến cuối thu năm Bính Tuất (1886) hai bên đánh nhau lớn nhỏ có đến mươi trận, nhưng kịch liệt là những trận Đông Viên, Lục Phú và Cẩm Văn. Trong ba trận này, hai bên đều bị tổn hại nặng.

Dùng sức không thắng nổi nghĩa quân, thực dân và phong kiến tay sai dùng chước. Vua Đồng Khánh sai Phạm Phú Lâm mang Dụ vào kêu gọi nghĩa quân hạ khí giới. Dụ vua không có hiệu quả, trú sứ Tia Răng (Tirant) và thiếu tá Đuy Mác (Dumas) ở Quy Nhơn gửi thư yêu cầu Mai Nguyên soái bãi binh giảng hòa. Chúng lấy binh lực ra dọa, rồi lấy quan tước ra nhử. Nguyên soái khẳng khái bác khước lời yêu cầu, vạch rõ tội ác của Pháp cùng lũ bán nước, và thề quyết chiến đến cùng.

Thiếu tá Đuy Mác biết không thể dụ được, cũng không thể dẹp được, bèn về Sài Gòn xin viện binh. Trú sứ Ay Mô Ni Ê (Aymonier) ra thay Tia Răng, và thiếu tá Đờ Lộc (Delorme) ra thay Đuy Mác. Còn viện binh thì do Trần Bá Lộc chỉ huy. Ay mô Ni Ê và Đờ Lộc đem pháo thuyền Vi be (Vipere) ra án ngữ cửa biển Quy Nhơn, còn Trần Bá Lộc thì kéo binh từ Sài Gòn theo đường bộ đi ra.

Cũng như Nguyễn Thân, Trần Bá Lộc là một tay sai đắc lực của thực dân Pháp. Hắn hung bạo không kém, có thể nói là còn hơn Nguyễn Thân, và cũng dùng một chánh sách, một thủ đoạn như Nguyễn Thân là chém giết, cứ chém giết, bất luận già trẻ, bất luận có tội hay không có tội, miễn được việc cho mình và vừa lòng quan thầy là được. Đạo quân của hắn lại rất tinh nhuệ và rất đầy đủ khí giới tân thời. Cho nên khí thế rất mạnh.

Trần Bá Lộc kéo quân ra đến Bình Thuận tháng chín năm Bính Tuất (10-1886). Nghĩa quân Bình Thuận chận đánh. Mặc dù tận tâm tận lực, vũ khí thô sơ không thể chống nổi với khí giới tinh xảo, nên đánh nhau không mấy trận, nghĩa quân bị địch đánh tan. Nghe tin Trần Bá Lộc đánh Bình Thuận, Mai Nguyên soái cho Đề binh Nguyễn Đồng Luân đem binh vào giúp, nhưng không kịp, nên ở lại hợp sức cùng nghĩa quân Khánh Hòa.

Binh Trần Bá Lộc ra Khánh Hòa bị quân Trịnh Phong, Trần Đường kháng cự mãnh liệt. Nhưng sau một tháng chiến đấu anh dũng, nghĩa quân bị tiêu diệt dưới hỏa lực của Lộc Việt gian. Nguyễn Đồng Luân cùng các hào kiệt Khánh Hòa đền nợ nước.

Nghe tin nghĩa quân Khánh, Thuận đại bại, nghĩa quân Phú Yên có phần nao núng. Lại thêm Học sanh Bùi Quang được Pháp mua chuộc, cam tâm làm nội ứng cho ngụy quân, nên Trần Bá Lộc đánh phá nghĩa quân không mấy chốc. Các nghĩa sĩ Phú Yên đều bị giặc giết. Duy Bùi Quang được Pháp thu dùng.

Không đầy hai tháng, Trần Bá Lộc thanh toán xong ba tỉnh. Sở dĩ nghĩa binh thua nhanh như vậy chẳng những vì một bên súng đạn, một bên gươm đao mà còn vì sức khủng bố của tên Việt gian Lộc quá tàn ác. Con nít bị bỏ vào cối giã nát, đàn bà bị hãm hiếp, bị lăng nhục một cách tồi tệ, đàn ông thì bị đâm chém hoặc bỏ vào bao nhận nước. Các nhà giàu có thì bị tra tấn để lấy tiền… Đồng bào khủng khiếp, không còn lòng dạ nghĩ đến nghĩa quân!

. Theo Võ nhân Bình Định

(còn tiếp)

 

Gửi tin này qua E-mail In thông tin Gửi phản hồi
CÁC TIN KHÁC >>
1. Mai Xuân Thưởng  (26/02/2004)
1. Mai Xuân Thưởng (tiếp theo)  (25/02/2004)
1. Mai Xuân Thưởng   (24/02/2004)
13. Trần Thị Quyền  (23/02/2004)
12. Lê Đại Cang (tiếp theo)  (22/02/2004)
12. Lê Đại Cang   (20/02/2004)
11. Lê Đình Lý  (18/02/2004)
10. Hoàng Chiến   (17/02/2004)
9. Võ Văn Trừ  (16/02/2004)
8. Phạm Văn Lý   (15/02/2004)
7. Nguyễn Văn Hoằng   (13/02/2004)
6. Trần Văn Xung   (12/02/2004)
5. Phạm Văn Sĩ  (11/02/2004)
4. Nguyễn Thị Hảo  (10/02/2004)
3. Võ Tánh  (09/02/2004)