Các võ sư thời Tây Sơn
4. Võ sư Trần Kim Hùng
17:45', 30/1/ 2004 (GMT+7)

(tiếp theo)

Nửa tháng sau, chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Lần này chúng tôi đi sâu vào rừng rậm và tôi được truyền dạy cách đánh nhau với cọp. Một hôm, chúng tôi đi ngang qua một đồi cỏ tranh thì bị cọp chận đường. Ân sư bảo tôi cự địch còn người đứng lược trận. Tôi đánh với cọp từ sáng đến trưa. Cọp vừa mạnh vừa lanh. Tôi đánh mười đòn cọp tránh hết chín. Tôi đánh trúng vào thân thì thấy mềm như đánh vào thúng bông gòn, nếu đánh trúng vào đầu thì chẳng khác nào đánh vào đá. Còn cọp chụp vào tôi thì tôi chẳng khác nào đánh vào đá. Còn cọp chụp vào tôi thì tôi chỉ tránh được một hai cho nên mình mẩy máu chảy dầm dề. May tôi có sức lực, nên chịu trận nổi một buổi rồi mới ngã ra hôn mê. Cọp nhảy vào định vồ thì ân sư đã nhanh như chớp luồn qua bụng cọp, nhấc bổng cọp lên, ném xuống sườn bãi tranh. Cọp lăn long lóc và cắm đầu chạy thẳng. Ân sư dùng thuốc lá băng đắp cho tôi. Thuốc trong uống ngoài thoa thì ba ngày tôi bình phục, khi ấy ân sư mới chỉ dạy:

- Chiến đấu với địch thủ dũng mãnh hơn mình thì phải dùng trí hơn dùng lực. Gặp cọp, nếu mình có sức mạnh và giỏi như Võ Tòng thì hổ Cảnh Dương có mấy con cũng không sợ. Còn mình khi đánh với cọp thì phải dùng trí. Phải hiểu rõ nhược điểm của cọp mà đánh. Hổ mạnh ở thế vồ. Hai chân trước sử dụng mạnh và nhanh. Nhược điểm của cọp là hạ bộ. Khi đánh mạnh vào bộ phận sinh dục của cọp thì thì cọp chịu không thấu phải bỏ chạy ngay. Còn nếu lên được lưng cọp thì phải dùng thế chân kẹp bụng, tay ôm cổ thật chạy để cọp không thể nào bấu xé được và sẽ bị nghẹt thở và chết. Đánh với cọp thì phải tránh né cho thật lẹ làng. Đòn của cọp có sức mạnh vô cùng, nếu ra sức đỡ thì chẳng khác nào đưa thân ra nhận đòn, một lạng chống trăm cân.

Ân sư bảo tôi diễn lại những món đòn của cọp thì phân tích lợi hại và chỉ rõ cách tránh né để phản công. Sau khi học thế tránh né để phản công, tôi rất tin tưởng vào cách đánh cọp của ân sư, nên từ đó tôi không bao giờ sợ cọp chận đường nữa. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường, ngày đi đêm nghỉ. Ân sư im lặng. Tôi vừa đi vừa nhẩm ôn những điều đã học, tay vùng vẫy tập cho nhuần các thế võ, chân vừa đi vừa nhảy nhịp nhàng. Nhờ vậy mà dặm đường xa qua mau, thời gian không còn bận bịu trong lòng. Nhờ hoa rừng nở xuân, lá vàng rụng thu, đàn ve gọi hè, mùa đông chặn nẻo mà tôi biết được đã trèo non vượt suối gần ba năm tròn.

Một hôm đi đến dưới chân một ngọn núi cao chót vót, ân sư tìm đường lên núi, con tôi lặng lẽ theo sau. Trên đỉnh có một ngôi cổ tự, rộng lớn, sạch sẽ, bên trong không có bàn thờ, tượng Phật mà chỉ có năm ba tảng đá bằng phẳng nằm rải rác trên nền chùa. Một vị lão tăng thân vóc gầy gò đang ngồi thiền định. Đứng hầu bên cạnh có một vị sư trẻ gầy gò ốm yếu.

Trần ân sư bảo tôi đứng ngoài sân đợi còn ngài vào đại sảnh bái kiến lão tăng. Một lát sau ân sư ra đưa tôi đến trú ngụ tại cửa tam quan chùa. Ân sư bảo tôi quét dọn tam quan để nghỉ ngơi và dẹp dọn một khoảnh đất gần tam quan để làm nơi luyện tập võ nghệ.

Chúng tôi ở chùa được gần hai năm. Đói ăn trái rừng, khát uống nước suối. Sống cách biệt hẳn với chùa. Thỉnh thoảng một vài hôm sư chú trong chùa đem ra một hai vắt cơm với vài hạt muối rồi lặng lẽ vào chùa. Chưa bao giờ tôi bắt gặp ân sư chuyện vãn với sư ông trong chùa.

Đối với tôi ân sư ngoài những lời giáo huấn ít khi trò chuyện, tâm tình. Khi tôi luyện tập thì ân sư hoặc ngồi thiền định hoặc đi dạo cảnh chung quanh chùa. Năm đầu ân sư bảo tôi ôn luyện lại những gì đã học được ở dọc đường. Điểm nào còn sai sót, ân sư sửa, điểm nào thiếu ân sư bồi. Qua năm thứ hai, tôi được dạy phép luyện nội công. Ân sư dạy:

- Luyện nội công cần phải nhiều thời gian. Luyện thành công có thể dùng tay không hoặc vật dụng thô sơ như nhánh cây, que củi mà vẫn chống lại được với đao, kiếm. Võ nghệ con đã có với căn bản chỉ cần con tập luyện nội công trong một năm, cốt để hỗ trợ cho nội lực được vững bền. Con cần phải gầy dựng sự nghiệp. Khi nhớ đến thầy chỉ cần tự xét hành động của con là được. Con đã có thể xuống núi.

Đoạn, một mình đi thẳng vào chùa. Một lúc sau, ân sư cùng sư chú ra gặp tôi. Nhà sư đến gần nhẹ nhàng đặt hai tay lên vai tôi. Một sức mạnh cuồn cuộn đè nặng trên đôi vai và chạy rần rần vào các kinh mạch của tôi. Nhà sư ân cần nói:

- Công nghiệp nặng nề, ra đời tráng sĩ luôn luôn nhớ đến bốn chữ "Từ bi hỷ xả".

Đoạn chắp tay tiễn tôi ra khỏi cửa tam quan. Bái biệt nhà sư, tôi theo ân sư xuống núi. Tới chân núi, ân sư bảo tôi:

- Nhà sư đã truyền cho con khá nhiều công lực. Bây giờ thầy trò ta chia biệt. Con hãy trở về một mình để gây sự nghiệp. Thầy phải ở lại tu luyện cho tròn quả phú. Nơi này là vùng giáp ranh giữa nước ra các nước Chân Lạp. Con cứ theo hướng Bắc mà đi, không bao lâu sẽ gặp xốm làng. Hỏi thăm đường mà về cố hương. Chỉ ghé Trường Định báo tin cho gia đình thầy biết rồi nhất thiết phải lên ấp Tây Sơn, chung sức cùng anh hùng hào kiệt lo toan việc trị loạn an dân.

Tôi cảm động muốn khóc, nhưng không dám, đành nuốt buồn thương quỳ lạy ân sư rồi đứng dậy lên đường... và khi quay đầu nhìn lại thì bóng ân sư đã khuất trong rặng lá bên chùa.

Khi đi thì băng rừng núi, khi về lại đi nẻo đồng bằng, nên cũng nhanh chóng. Thăm xong gia đình ân sư, Nguyễn Văn Tuyết trở về Gò Chàm thăm lại người xưa cảnh cũ rồi đoạt ngựa thần của chúa Nguyễn Phúc Khoát lên nhập với anh em nhà Tây Sơn.

Họ Trần từ ông tổ sáng lập đến con cháu ở Trường Định luôn luôn tuân theo truyền thống "tùy ngộ nhi an" cho nên vẫn thản nhiên trước những biến cố dù lớn dù nhỏ. Biết được Trần Kim Hùng đã ngộ đạo, con cháu an tâm. Họ Trần sau này không có anh tài xuất sắc, song con cháu làm ăn sung túc và con trai trong gia đình đều siêng năng rèn luyện võ nghệ để phòng thân và giữ gìn xóm làng. Thôn Trường Định nổi danh trong huyện Bình Khê (Tây Sơn) về các tay chức sắc trong làng đều giỏi võ nghệ. Tục lệ này vẫn duy trì cho đến bây giờ.

. Theo Võ nhân Bình Định

(còn tiếp)

Gửi tin này qua E-mail In thông tin Gửi phản hồi
CÁC TIN KHÁC >>
4. Võ sư Trần Kim Hùng  (29/01/2004)
4. Võ sư Trần Kim Hùng  (28/01/2004)
3. Võ sư Diệp Đình Tòng  (27/01/2004)
2. Thầy giáo Trương Văn Hiến  (26/01/2004)
2. Thầy giáo Trương Văn Hiến   (24/01/2004)
1. Bằng Châu Đinh lão (tiếp theo)  (21/01/2004)
1. Bằng Châu Đinh lão  (20/01/2004)
12. Bà Cô Hầu   (19/01/2004)
11. Tộc trưởng Bốc Kiơm  (18/01/2004)
10. Phạm Cần Chính   (16/01/2004)
9. Nhưng Huy và Tư Linh  (09/01/2004)
8. Phạm Văn Thọ và Lâm Thị Bạch   (08/01/2004)
7. Nguyễn Bảo   (07/01/2004)
6. Lê Trung  (06/01/2004)
5. Ngô Văn Sở   (05/01/2004)