Các võ sư thời Tây Sơn
1. Bằng Châu Đinh lão (tiếp theo)
17:17', 21/1/ 2004 (GMT+7)

Một lần ba anh em nhà Tây Sơn ra vườn trông thấy Đinh lão đang nằm vắt vẻo trên một sợi dây phơi quần áo, ngủ ngon lành. Một hôm theo ông ra đồng. Ông cháu đang ngồi bên dòng mương nước chảy ngập bờ, uốn lượn giữa cánh đồng lúa chín chập chờn vờn gió thì Đinh lão kêu buồn ngủ và liền nằm trên cán cuốc để nằm trên bờ ruộng ngủ ngon lành. Tiếng ngáy được tiếng cu cườm gù mái điểm nhịp giữa đồng trưa. Ba anh em nhà Tây Sơn vừa thích thú vừa ham muốn nên theo năn nỉ Đinh công dạy "nghề". Đinh lão nói:

- Nằm ngủ trên dây, trên cây cốt chính là giữ cho thăng bằng. Chuyện này không khó, chỉ cần khổ luyện là được ngay. Nằm trên cán cuốc là nằm trên một vật cứng hai đầu tựa đất. Ban đầu nằm trên cán cuốc đặt song song cách nhau một tấc. Muốn tập nằm trên dây, trước tiên phải tập ngồi, đi lại và cuối cùng mới được nằm. Nếu người luôn luôn giữ thăng bằng thì có thể nằm trên dây mà đưa đi đưa lại như nằm trên võng. Còn ngủ trên dây thì phải luyện đến bậc thượng thừa.

Ba anh em nhà Tây Sơn chỉ tập được cách ngồi, và đi trên dây.

Còn về tập cưỡi ngựa thì Đinh lão sau khi giảng giải các điều căn bản để cưỡi ngựa như cách cặp hai chân vào bụng ngựa, thúc ngựa bằng gót chân, bằng đầu gối, cách nắm dây cương khi lên ngựa, khi cho ngựa chạy và khi ngừng ngựa... rồi để mặc cho lũ trẻ với các con ngựa đã tập thuần còn mình thì ngồi bên ngoài mà nhìn ngắm.

Những buổi ban đầu cả ba đều sưng đầu bêu trán vì ngã ngựa. Sau quen dần và cưỡi được. Riêng Nguyễn Lữ thì sau khi cưỡi ngựa đóng yên cương bèn thôi không học cách cưỡi ngựa không yên cương và nhào lộn trên mình ngựa. Nguyễn Huệ thì rất thích thú với môn phi ngựa còn Nguyễn Nhạc thì chuyên về nuôi và huấn luyện ngựa.

Thời Tây Sơn có câu:

Trường ngựa Bằng Châu

Bến trầu Kiên Mỹ

Để nhắc đến hai địa danh nổi tiếng là trại ngựa ở thôn Bằng Châu và bến buôn trầu ở làng Kiên Mỹ. Đồng thời cũng nhắc đến cách xuất thân của Nguyễn Nhạc trước khi dựng nên nhà Tây Sơn.

Đinh lão Bằng Châu còn để lại một câu chuyện về ngựa:

Nguyên ngựa nơi thôn trại Bằng Châu nổi tiếng về dũng mãnh và thuần thục. Ngựa chạy cả ngày không chồn vó và tuân theo sự điều khiển của chủ một cách tuyệt đối. Gặp nước sôi hay lửa cháy, chủ giục xông vào, ngựa vẫn không chùn bước. Khi chủ lâm nạn, ngựa biết đường tháo chạy về nhà hí lên để báo tin.

Trong trại ngựa Bằng Châu có đến vài trăm con. Ngựa con nào cũng thuần giống và thuần thục. Đặc biệt có một con ngựa bạch lông trắng như tuyết. Đôi mắt đỏ như hai hòn than lửa. Chạy ngàn dặm không đổ mồ hôi. Đinh lão quý như con. Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên biết được, sai người đến dặm mua. Không bán, sau khi tìm hết cách hăm dọa, mua chuộc không được. Nguyễn Khắc Tuyên đành phải xuống nước, đích thân đến Bằng Châu hạ mình năn nỉ với lý do: mua ngựa cống hiến cho chúa Võ Vương Nguyễn Phúc khoát.

Chẳng thể cưỡng lại, Đinh Lão phải cắn răng bán ngựa. Tuyên được ngựa bèn giữ luôn cho mình. Một tháng sau, ngoại thành Quy Nhơn đêm đêm nghe véo von tiếng sáo. Đến nửa đêm, khi tiếng sáo ngừng thì ngựa trong chuồng tuần phủ hí lên não nùng tha thiết. Sáng hôm sau. Lính giữ chuồng ngựa phát giác một con ngựa nằm chết trong chuồng. Khám nghiệm không biết chết vì lý do nào. Cứ như vậy xảy ra hằng đêm. Lính giữ chuồng ngựa sợ quá phải bẩm lên quan tuần phủ. Quan cho người điều tra nhưng không tìm thấy manh mối. Ngựa trong tàu vơi dần đi. Tuyên hỏi ý kiến kẻ tham mưu. Cho rằng đó là tại con ngựa bạch Thành tinh nên sẽ giết lần cả bầy ngựa. Nếu còn để lại, sau này sẽ hại chết chủ. Bàn nên bán lại cho chủ cũ. Tuyên nghe theo, gọi Đinh lão Bằng Châu đến thương lượng và cho chuộc ngựa về. Từ đó đêm đêm không còn nghe tiếng sáo nữa và ngựa thôi hí lúc khuya.

Thì ra đó là mưu kế của Đinh Lão. Đêm đêm, ông dùng tiếng sáo để gợi lên nỗi nhớ chuồng nhớ chủ của con ngựa. Cho nên ngựa hí lên não nùng. Đồng thời, Đinh lão dùng thuật hạ hành lẻn vào chuồng ngựa trong phủ dùng "tồi tâm chưởng" là một thế võ đấm chết ngựa mà không để lại vết tích bên ngoài. Sự chấn động mạnh vào nội tạng làm tim ngừng đập tức khắc. Cho nên khám nghiệm khó mà đoán ra nguyên nhân.

Một mặt khác, Đinh lão sai người đem vàng lo lót cho các kẻ tham mưu dưới trướng tuần phủ họ Trần, bày kế cho chuộc lại ngựa.

Tuyên tuy tiếc con ngựa quý song nhờ lấy lại được tiền, cứu bầy ngựa trong phủ nên cho qua sự việc.

Nhà Tây Sơn dựng nghiệp, Đinh lão đem hiến cả bầy ngựa đông đến ba bốn trăm con. Các mã phu cũng hăng hái tình nguyện theo chăm sóc bầy ngựa. Riêng Đinh lão, tuy được đích thân Nguyễn Nhạc xuống tận Bằng Châu cầu xin Đinh lão gia nhập nghĩa quân, song Đinh lão đã vin vào tuổi già sức yếu nên xin khước từ. Để tỏ lòng ưu ái, Đinh lão ngoài việc tặng bầy ngựa chiến còn cho hàng ngàn vuông lúa, hàng trăm cây vải để phụ vào việc quân nhu.

Năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng đế hiệu là Minh Đức hoàng đế, lấy niên hiệu là Thái Đức, đổi thành Quy Nhơn thành Hoàng đế thành. Tất cả các người phụng sự điều được phong tước.

Riêng về Đinh lão ở Bằng Châu, Nguyễn Nhạc cho người đến rước thì Đinh lão khước từ. Sau vua Thái Đức phải thân chinh đến viếng. Đinh lão đón tiếp thân mật và đơn giản như đón người thân. Không lễ nghi quan cách, nhân Nguyễn Nhạc nhắc đến việc đón ra làm quan, Đinh lão nói:

- Tổ tiên dòng họ Ðinh, sau thời Thái Sư Lân Quận công, có di chúc cho con cháu không ai làm quan nữa. Xin nhà vua giúp cho chúng tôi làm trọn theo lời di chúc.

Tuy nhiên quyền của nhà vua ban tước thì đó là phép nước không tuân chỉ được. Việc ông ban tước cho tôi, tôi thấy hơi nghịch. Ông làm vua là vua cả thiên hạ chớ đối với tôi, ông vẫn thuộc hàng cháu con. Con cháu mà ban tước cho ông, cha thì không thuận rồi. Nhưng nếu ông muốn thì tôi phải theo, song nên theo cách của tôi. Tôi phê ông lục. Nguyễn Nhạc chuẩn y. Đinh lão viết:

Bùng Binh chi tướng

Uých cướng chi quan

Bộn bàng chi chức

Chảng chảng ngang thiên.

Hằng năm, sau hai vụ gặt hái, Đinh lão đều xuống thành Hoàng đế viếng thăm vua Thái Đức. Khi đi thì ngồi trên một cái ghế thang có bốn người khiêng. Đi hai bên có vài chục thợ cày, người cầm cào cỏ, chĩa ba, kẻ vác xuổng vác cuốc thay thế cây cờ, biển hèo, tua… hai bên ghế ngồi che hai cây dù tát nước lợp bằng lá nón để thay thế lọng che. Phía trước cũng như phía sau lại có hai đoàn người ăn bận quần áo nông phu đang cày cấy, khi ra đồng, vừa đi vừa thổi kèn, đánh trống bằng miệng. Quang cảnh tưng bừng rộn rịp. Bà con nông dân kéo ra xem đông và đồng hò reo với nhau vui như hội.

Khi nhà Tây Sơn mất, Gia Long tuy không đủ bằng chứng để quy tội đặng tiêu diệt thôn Bằng Châu của họ Đinh, song quan lại địa phương lại tìm đủ cách để sách nhiễu dòng họ Đinh. Tuy nhiên nhờ ở tinh thần đoàn kết của tất cả dân trong thôn và nhất là người nào cũng võ nghệ tinh thông, pháp luật được tôn trọng nên thôn Bằng Châu vẫn sống trong thanh bình. Riêng họ Đinh thì con cháu càng ít đi, không còn giữ được địa vị then chốt như tổ tiên trước kia. Hôm nay thôn Bằng Châu đã trở thành một thôn có nề nếp sinh hoạt như các thôn khác. Nhắc đến họ Đinh, mọi người đều cúi đầu nhớ ơn những người đã tiên phong lập nên thôn Bằng Châu hôm nay.

. Theo Võ nhân Bình Định

(còn tiếp)

Gửi tin này qua E-mail In thông tin Gửi phản hồi
CÁC TIN KHÁC >>
1. Bằng Châu Đinh lão  (20/01/2004)
12. Bà Cô Hầu   (19/01/2004)
11. Tộc trưởng Bốc Kiơm  (18/01/2004)
10. Phạm Cần Chính   (16/01/2004)
9. Nhưng Huy và Tư Linh  (09/01/2004)
8. Phạm Văn Thọ và Lâm Thị Bạch   (08/01/2004)
7. Nguyễn Bảo   (07/01/2004)
6. Lê Trung  (06/01/2004)
5. Ngô Văn Sở   (05/01/2004)
4. Trương Văn Đa  (28/12/2003)
3. Nguyễn Quang Thùy   (26/12/2003)
2. Đặng Văn Long   (25/12/2003)
1. Đặng Xuân Phong  (24/12/2003)
Nguyễn Thị Dung và Huỳnh Thị Cúc  (23/12/2003)
Trần Thị Lan  (22/12/2003)