Tây Sơn danh tướng
10. Phạm Cần Chính
16:53', 16/1/ 2004 (GMT+7)

Khi vua Quang Trung lên ngôi Hoàng đế, Bắc Nam trở thành hai nước riêng biệt. Từ Hải Vân quan trở ra là của vua Quang Trung. Còn đất trở vô là của Vua Thái Đức. Vua Quang Trung đóng đô ở Phú Xuân. Bắc Hà do quân trấn trấn nhậm. Việc tuyển chọn nhân tài thì có các khoa thi Văn và thi Võ. Ba năm mở một lần. Khoa đầu mở vào năm Quang Trung thứ nhì (1789). Khoa này có hai người xuất sắc.

Phạm Cần Chính, người huyện Phù Cát, rất giỏi Hán văn, nhưng lại ghét lối văn chương phù phiếm nên chỉ chuyên nghiên cứu binh pháp. Các sách như Binh Thư Yếu Lược, Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược ông đều tận tình nghiên cứu.

Lúc nhỏ, nhà rất nghèo không đủ tiền mua dầu thắp, ông đốt củi làm đèn đọc sách, tập văn đến gà gáy mới ngủ. Lớn lên đi tìm thầy học võ. Hễ nghe đồn ai có môn võ nghệ nào hay đều lần đến xin học. Vốn là người có học nên thái độ ôn hòa, tư cách phong nhã, nên phần nhiều các võ sư không nỡ từ chối. Trời cho Phạm Cần Chính sức mạnh như Hạng vương. Một mình có thể vác nổi cây gỗ nặng đến 10 người khiêng. Cung sắt nặng 300 cân, ông giương lên nhẹ nhàng và bắn trăm phát trăm trúng. Tài phi thân cũng hơn người, hai nách kẹp hai tảng đá nặng hàng tạ mà nhảy qua rào cao một cách nhẹ nhàng. Giỏi đủ các bộ môn lại thiên về đánh thiết sóc. Thiết sóc là một loại thương dài đầu có mũi nhọn và móc sắt. Cho nên người đời gọi ông là Phạm Thiết Sóc.

Trong hội thi ông đều đoạt hạng tối ưu. Vua Quang Trung rất thích bèn đổi họ Phạm ra họ Nguyễn. Ông giúp vua Quang Trung huấn luyện binh sĩ.

Năm 1791, ông tháp tùng Võ Văn Dũng đi dẹp cuộc bạo loạn của Trần Quang Châu ở Bắc Ninh. Nguyên tên Châu đã từng theo vua Lê Chiêu Thống được phong Tiên phong Đại tướng, theo quân Thanh đánh Bắc Hà. Sau khi quân Thanh rút chạy, Châu trở về huyện nhà mộ binh đánh phá các vùng lân cận. Nhờ địa thế hiểm trở nên Châu chống cự được gần hai năm. Phạm Cần Chính đã từng chiến thắng nhiều trận, song Châu giỏi trốn tránh nên mãi đến sau mới bị bắt và bị giết.

Vua Quang Trung mất sớm. Triều đình bị Thái sư Bùi Đắc Tuyên khuynh loát, Phạm Cần Chính bị thất sủng nên không có dịp thi thố tài năng.

Năm Canh Thân (1800), Phạm Cần Chính được cử làm Trấn thủ Quảng Nam, và Lê Sĩ Hoàng làm Trấn thủ Quảng Ngãi.

Năm 1801, Nguyễn Phúc Ánh đánh Quy Nhơn, song không cứu nổi Võ Tánh, bèn sai Nguyễn Văn Chương đem thủy binh ra đánh Quảng Nam và Quảng Nghĩa. Binh của Nguyễn Văn Chương bị binh của Phạm Cần Chính và binh của Lê Sĩ Hoàng đánh cho đại bại phải bỏ cả ghe thuyền chạy bộ trốn vào Quy Nhơn.

Cứu không được Quy Nhơn, Nguyễn Phúc Ánh đi thuyền thẳng ra đánh chiếm Phú Xuân rồi sai Lê Văn Duyệt, Lê Chất đem quân về cứu Quy Nhơn.

Lê Văn Duyệt kéo bộ binh qua đèo Hải Vân vào Quảng Nam. Lê Chấn đem thủy binh vào sông Trà Khúc ở Quảng Nghĩa.

Phạm Cần Chính trấn thủ Quảng Nam để cho quân Lê Văn Duyệt kéo thẳng vào Quảng Nghĩa gặp quân Lê Chất rồi phối hợp cùng với Lê Sĩ Hoàng trong đánh ra ngoài đánh vào. Quân nhà Nguyễn đông đến ba vạn người, nhưng không chống cự nổi với sức mạnh của Phạm, Lê.

Phạm Cần Chính cưỡi ngựa ô, cầm thiết sóc tung hoành giữa quân Nguyễn. Gặp Lê Chất, ỷ binh nhiều tràn tới, Phạm tướng quân giao chiến một trận oai hùng. Chịu không nổi sức nặng của cây thiết sóc, Lê Chất quất ngựa chạy dài. Quân Nguyễn tan rã. Bị truy kích, Lê Chất phải bỏ ngựa chạy xuống thuyền cùng binh sĩ chạy trốn ra biển rồi dồn quân trốn tại Cổ Lũy.

Cổ Lũy là một cô thôn nằm trên cửa sông Trà Khúc, nơi đây xưa kia, người Chiêm Thành đóng đồn ngăn giặc. Đó là một vùng cát trắng mênh mông, phía trước mặt là nơi giao thủy của sông Trà, sông Vệ, bên kia sông là thôn Phú Thọ và phía đông là cửa Đại mênh mông.

Lê Văn Duyệt thì bị Lê Sĩ Hoàng đáng chạy vào Mộ Đức, lại bị tập kích thêm một trận nữa phải chạy lên núi Thạch Bích.

Kể từ đó Quảng Nam, Quảng Nghĩa do hai tướng Phạm, Lê trấn đóng cho đến khi nhà Tây Sơn mất.

Khi nghe tin Bắc thành thất thủ, Phạm Cần Chính liền mở kho phân phát hết quân lương và quân trang cho binh sĩ, khuyên mọi người về quê quán làm ăn sinh sống, còn mình thì một thương một ngựa ra đi. Phạm Cần Chính thăm quê hương rồi lên ẩn trên núi Phương Phi tại Phù Cát, sau ra Cao Bằng rồi mất tại đó.

. Theo Võ nhân Bình Định

(còn tiếp)

 

Gửi tin này qua E-mail In thông tin Gửi phản hồi
CÁC TIN KHÁC >>
9. Nhưng Huy và Tư Linh  (09/01/2004)
8. Phạm Văn Thọ và Lâm Thị Bạch   (08/01/2004)
7. Nguyễn Bảo   (07/01/2004)
6. Lê Trung  (06/01/2004)
5. Ngô Văn Sở   (05/01/2004)
4. Trương Văn Đa  (28/12/2003)
3. Nguyễn Quang Thùy   (26/12/2003)
2. Đặng Văn Long   (25/12/2003)
1. Đặng Xuân Phong  (24/12/2003)
Nguyễn Thị Dung và Huỳnh Thị Cúc  (23/12/2003)
Trần Thị Lan  (22/12/2003)
Bùi Thị Nhạn  (21/12/2003)
1. Bùi Thị Xuân  (18/12/2003)
1. Bùi Thị Xuân  (17/12/2003)
1. Bùi Thị Xuân  (16/12/2003)