Các võ sư thời Tây Sơn
4. Võ sư Trần Kim Hùng
3:56', 2/1/ 2002 (GMT+7)

(tiếp theo)

Trong sân, lý hương và tuần đinh đã tề tựu đông đủ, Kim Hùng ném tên đầu đảng ở giữa sân. Viên lý trưởng ra lệnh đóng gông tên cướp để sáng mai dẫn lên trình quan huyện. Kim Hùng can:

- Pháp luật trừng trị chỉ được bọn trộm cắp. Đối với bọn cướp, nếu chúng có tinh thần thượng võ, nghĩa là biết tự trọng danh dự thì chỉ có lượng bao dung, nghĩa hào hiệp mới mong cải thiện được mà thôi.

Nói rồi mở khóa chân cho tên cướp. Tên cướp đứng dậy bước đến cúi đầu chào Kim Hùng rồi ung dung ra về trước vẻ ngạc nhiên của những người hiện diện. Từ đó thôn Trường Định không bao giờ xảy ra một vụ cướp của đốt nhà nào nữa.

Thanh danh Kim Hùng bay xa đến các huyện trong tỉnh. Nhiều thanh niên xa gần đến xin thọ giáo, song Kim Hùng thường từ chối, vì xét thấy kẻ đến xin làm đồ môn đệ thiếu đức tính khiêm nhường nhân ái mà chỉ nghĩ đến học võ để đua sức khoe tài với đời. Nhiều người muốn xin được học võ để trả thù những chuyện xích mích xóm làng, chưa gặp được một người nào có chí lớn.

Lúc bấy giờ ông anh là Trần Kim Khánh cũng đã có vợ con, nên ông Kim Hùng cũng vâng theo lệnh của song thân lập gia đình, sanh được một trai là Trần Kim Báu. Khi lớn lên, Kim Báu được cha truyền thụ võ công thành một võ sĩ tài nghệ tuyệt luân. Nhưng Kim Báu tánh tình giống cha, chỉ vui với đời sống canh tác ruộng nương.

Lập gia đình, Kim Báu sanh được hai gái là Trần Thị Huệ và Trần Thị Lan, hơn kém nhau 5 tuổi: Trần Thị Lan lên 5 thì mẹ mất. Buồn thương cực độ, Trần Kim Báu gởi hai con cho cha, một thân một kiếm đi vân du đây đó. Hai cháu gái ở cùng ông nội, mỗi người theo mỗi chí hướng. Trần Thị Huệ thì theo bà nội học nữ công thuê thùa may vá. Trần Thị Lan thì theo ông nội luyện tập võ công, có tài về kiếm thuật và khinh công.

Năm năm sau khi ra đi, Kim Báu trở về cho biết rằng trên đường vào Nam, ông có ghé vào thôn Hiền Lương, huyện Quảng Phước, dinh Bình Khang (tức thôn Hiền Lương, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa bây giờ). Thấy tại đây non nước hữu tình, có sông núi gần biển khơi, vườn dừa xanh mát, dân làng hiền hòa, đời sống sung túc nên ông quyết định ở lại mở trường dạy võ, đồng thời có gặp một người thục nữ địa phương xứng ý nên về xin cha mẹ được phép tục huyền. Ông bà Trần Kim Hùng chấp thuận. Trần Kim Báu trở vào Hiền Lương và thành lập gia đình, sinh được một con trai tên Trần Kim Sư. Kim Sư vừa giáp thôi nôi thì Trần Kim Báu từ trần.

Được hung tin, Trần Kim Hùng đem hai cháu gái Trần Thị Huệ và Trần Thị Lan vào Hiền Lương chịu tang cha. Làm tuần chung thất xong, Trần công để Kim Sư ở lại với mẹ đặng sau này lo việc hương khói cho cha, rồi đưa hai cháu gái trở về Bình Định. Về đến An Nhơn (Bình Định) Trần công thâu nhận được môn đệ là Nguyễn Văn Tuyết. Tuy Tuyết sanh sống trong đám lục lâm, nhưng bản chất tốt, có năng khiếu về võ thuật, nếu có giáo dục thì sẽ trở thành một nhân vật nổi tiếng trong võ lâm.

Để hai cháu ở lại Trường Định, Trần Kim Hùng dẫn đồ đệ ra đi, không có lần nào về thăm về hương.

Ở nhà, đến tuổi trưởng thành, Trần Thị Huệ kết duyên cùng Nguyễn Nhạc, ngụ tại thôn Kiên Mỹ (Tây Sơn). Trần Thị Lan lên Kiên Mỹ thăm chị gặp Bùi Thị Xuân, kết làm chị em và sau làm trợ tướng cho họ Bùi.

Năm năm sau, Nguyễn Văn Tuyết một thân đơn độc trở về thăm gia đình họ Trần ở Trường Định và kể lại những năm tháng theo thầy học tập võ nghệ.

- Hôm ấy, Trần ân sư đưa tôi lên núi rồi theo đường núi đi lần vào Nam. Tôi lẳng lặng theo ân sư, lòng không hề phân vân, thắc mắc. Tôi đã hoàn toàn tin tưởng vào ân sư, nên dù ân sư không hề giải thích, nói năng về mục đích của chuyến đi, tôi vẫn nguyện một lòng theo ân sư đi đến chân trời góc biển. Ngày đi đêm nghỉ, đói ăn trái cây rừng, khát uống nước suối trong. Dọc đường gặp nhiều bước gian lao, gặp nhiều cảnh hiểm trở. Nhưng may mắn thay, cứ mỗi lần gặp gian lao, khó khăn lại một lần ân sư dạy bảo cho tôi một thế võ, một kinh nghiệm đối phó và những bài khổ luyện bồi dưỡng thể chất lẫn tinh thần. Càng đi theo sư phụ tôi càng nhận ra tâm hồn ân sư rất khoáng đãng không hề câu chấp, không bận bịu đến những cảnh tầm thường của thế nhân. Trong muôn vạn trường hợp học tập trong thực tiễn, tôi không bao giờ quên hai trường hợp đặc biệt đã in sâu vào tâm khảm tôi: Đó là trường hợp xô đá xuống hố và trường hợp đấu võ với cọp.

Một hôm, trên đường đi, một bên là vách đá dựng đứng, một bên hố vực sâu, có một tảng đá lớn chặn đường. Ân sư lấy tay xô thử thấy đá lay động bèn bảo tôi đẩy xuống hố. Tôi tuân lệnh, ra sức bình sinh xê dịch lần tảng đá. Mỗi ngày xích được một ít. Vì dùng sức quá nhiều nên mình mẩy tôi đều ê ẩm. Đêm không ngủ được. Bên ánh lửa hồng, ân sư thường xoa bóp cho tôi. Sau một giấc ngủ sâu, sáng hôm sau tôi thấy khỏe hơn và tiếp tục xô đá. Đây là phương pháp luyện công mà ân sư tập cho tôi. Cho nên mãi đến mười hôm, tảng đá mới xê đến cạnh mép hố. Ân sư bảo tôi ngồi tĩnh dưỡng, rồi dùng tận lực xô cho tảng đá rơi. Tôi vận khí rồi xuống tấn kê vai dùng hết sức đẩy tảng đá. Ban đầu không nhúc nhích sau rung rinh rồi thình lình rơi ào xuống vực. Bị mất đà tôi cũng chới với chực rơi theo. Ân sư vụt nhảy đến kẹp tôi vào nách, chân đạp mạnh vào tảng đá đang rơi để lấy đà nhảy lên mặt đường. Mọi động tác xảy ra quá nhanh, hành động của ân sư như chớp nhoáng, sự chết như cách chúng tôi đường tơ kẻ tóc. Khi chúng tôi chạm mặt đường thì viên đá rơi đến đáy vực. Âm thanh ầm ầm vang dội.

Sau khi cho tôi uống nước và ngồi dưỡng thần, ân sư mới dạy: con dùng hết sức lực để xô đá mà quên đi thể phòng bị lỡ đà. Thiên về công, quên đi thủ, ta sẽ lâm vào sơ xuất. Khi con xô hay kéo địch thủ thì cũng là lúc phải đề phòng địch thủ của con dùng thế nửa lạng đẩy nghìn cân, nương vào sức đẩy của con địch thủ chỉ kéo nhẹ một cái sẽ làm cho con lỡ đà và sẽ lâm vào vòng nguy hiểm. Hòn đá kia khi nằm trên mặt đường rất nặng, nhưng khi đã nghiêng về phía vực sẽ nhẹ đi nhiều. Con chưa biết cách dùng lực đẩy, nên khi đá nghiêng, lúc đẩy của con không còn sức cản nữa, nên con sẽ lỡ đà rơi xuống vực.

Và ân sư dạy tôi môn thủ thế. Thủ thế phải dồn sức xuống đôi chân, gọi là trụ ngựa hay đứng trụ. Đứng trụ vững vàng có thể hai người xô mà không xê dịch. Tuy nhiên, không phải đứng mãi một chỗ mà phải xê dịch. Xê dịch phải nhanh và biến hóa. Đôi chân giữ cho thân đứng vững mà cũng giúp cho thân tới lui tránh né lẹ làng. Ân sư cũng tập cho tôi phép thu nạp khí công để khi công thì ồ ạt khi dừng thì tức khắc. Cho nên nếu dùng trong việc xô đá thì khi đá đã rơi, ta có thể thu hồi khí để ngưng lại sức đẩy và tránh được sự lỡ đà rơi theo đá.

. Theo Võ nhân Bình Định

(còn tiếp)

Gửi tin này qua E-mail In thông tin Gửi phản hồi
CÁC TIN KHÁC >>
4. Võ sư Trần Kim Hùng  (28/01/2004)
3. Võ sư Diệp Đình Tòng  (27/01/2004)
2. Thầy giáo Trương Văn Hiến  (26/01/2004)
2. Thầy giáo Trương Văn Hiến   (24/01/2004)
1. Bằng Châu Đinh lão (tiếp theo)  (21/01/2004)
1. Bằng Châu Đinh lão  (20/01/2004)
12. Bà Cô Hầu   (19/01/2004)
11. Tộc trưởng Bốc Kiơm  (18/01/2004)
10. Phạm Cần Chính   (16/01/2004)
9. Nhưng Huy và Tư Linh  (09/01/2004)
8. Phạm Văn Thọ và Lâm Thị Bạch   (08/01/2004)
7. Nguyễn Bảo   (07/01/2004)
6. Lê Trung  (06/01/2004)
5. Ngô Văn Sở   (05/01/2004)
4. Trương Văn Đa  (28/12/2003)