Lễ cưới hỏi của người Bình Định xưa
16:46', 13/2/ 2004 (GMT+7)

Phong tục cưới hỏi của người Nhơn Thành, huyện An Nhơn nói riêng, Bình Định nói chung ngày xưa được tổ chức khá kỹ theo 7 bước: Lễ thăm nhà, Lễ sơ vấn (lễ nói), Lễ hỏi, Lễ đại nạp, Lễ cưới, Lễ nghinh hôn (rước dâu) và Lễ hồi dâu.

Ở tất cả các lễ trên, trừ lễ hồi dâu nhà trai phải mang đến nhà gái một cặp rượu, một cặp trà, trầu cau và một góc tư rượu trắng, các rượu trà trên sẽ được nhà gái đặt trang trọng nơi bàn thờ như là một sự chấp nhận hôn nhân, còn góc tư rượu trắng thì được rót mời đôi bên khi hành lễ. Xong lễ, nếu còn rượu thì phải sang vào hũ của nhà gái rồi xách chai không về chứ không được xách chai còn rượu. Ngoài ra nhà trai còn có tiền bỏ xiểng để nhà gái làm mâm cổ thết đãi. Riêng ngày đại nạp, ngày cưới còn có các lễ vật như: chục bánh tét, đầu heo, bò, gà cồ và nữ trang, tiền cho cô dâu mua sắm chuẩn bị đám cưới.

Trong các lễ trên, trừ lễ sơ vấn và lễ thăm nhà còn lại đều có từ 2 đến 6 bé gái 10-15 tuổi bưng quả bánh trái (tùy theo nhà giàu nghèo mà số lượng quả có khác nhau). Khi nhà trai ra về, nhà gái phải lại quả, tức là bỏ lại một phần nhỏ lễ vật trong các quả (lúc bấy giờ đã trống). Ngày nay, người ta không còn lại quả bằng lễ vật mà lại quả bằng tiền như là để cảm ơn các bé gái đã bưng quả (vì thế nên ngày nay từ lại quả thường được dùng trong các hành vi móc ngoặc tiền phần trăm trong các hợp đồng liên quan đến tài chính).

Ngày xưa, thanh niên nam, nữ ở Nhơn Thành, cũng như ở Bình Định muốn thành vợ chồng phải có người mai mối. Nay tục này hầu như không còn, song vẫn còn rơi rớt ở các cô, cậu muộn mằn chuyện hôn nhân. Mai dong là người có vai trò quan trọng trong cưới hỏi. Ông mai như người liên lạc giữa hai nhà và luôn vun đắp cho cuộc hôn nhân được vuông tròn. Ông mai dong là người ăn nói giỏi giang có tài thuyết phục và xoay trở. Đầu tiên ông mai dong được nhà trai nhờ đánh tiếng dạm hỏi. Nếu được thì tiến hành lễ thăm nhà (hay còn gọi là lễ coi mắt). Đây là bước rất quan trọng, vì nó quyết định cho cả cuộc hôn nhân. Thành phần nhà trai trong lễ thăm nhà tùy theo từng nhà, song không thể thiếu chú rể và ông bố. Lễ thăm nhà (coi mắt) là để chàng trai, cô gái và cha mẹ 2 bên được tận mắt nhìn thấy cô dâu, chú rể tương lai. Vì lâu nay, họ chỉ biết qua lời miêu tả của ông mai dong.

Sau lễ thăm nhà là lễ sơ vấn (đi nói). Tại lễ này, nếu nhà gái nhận cặp rượu, cặp trà thì coi như hôn nhân đã thành công 90%. Chỉ hạn hữu lắm mới có chuyện trả lễ, vì người Nhơn Thành cũng như người Bình Định quan niệm đã nhận trà rượu của nhà trai thì cũng giống như chấp nhận một đời chồng, nếu trả sẽ lỡ duyên cả đời con gái.

Rồi đến lễ hỏi và đại nạp. Lễ hỏi là lễ nhà trai mang sính lễ, trầu cau đến chính thức hỏi cưới con dâu, còn nhà gái thì ra điều kiện, lễ vật để nhà trai chuẩn bị (gọi là thách cưới).

Sau khi chuẩn bị mọi sính lễ theo yêu cầu của nhà gái, thì hai nhà tổ chức lễ đại nạp. Tại lễ này, nhà trai chuẩn bị ngoài lễ vật như trà, rượu bánh trái còn có tiền nát và nữ trang theo yêu cầu của nhà gái. Đây cùng là lúc chú rể trao nhẫn cho cô dâu và chính thức trở thành dâu, con trong hai nhà.

Sau lễ đại nạp chỉ còn lễ cưới và nghinh dâu. Lễ cưới tiến hành bằng việc chào đón hai họ. Cô dâu chú rể bái lạy gia tiên sau khi ông bố vợ sắm sửa bàn thờ làm lễ cáo gia tiên bằng bài cúng sau:

Bình Định tỉnh, An Nhơn huyện, Nhơn Thành xã

Tuế thứ… Niên, cát ngoạt, cát nhật

Gia chủ... tuổi

Vợ … tuổi

Cẩn dĩ hương đăng trà quả, phẩm vật

Kính dâng: cáo lễ gia tiên

Nam… tuổi

Nữ … tuổi

Gia chủ cung thỉnh

Ngài Thổ Thần, ngài Táo Quân

Gia chủ cung thỉnh: Đức ông tơ Hồng, Đức bà Nguyện lão

Gia chủ cung thỉnh: Tổ tiên, ông bà từ cao đến thấp

Cung thỉnh quí ngài về chứng giám Lễ kết hôn này.

Nhờ ơn quí ngài phò hộ cho đôi lứa: Bá niên giai lão, làm ăn khá, sanh con lanh lợi.

Gia chủ kính dâng lễ vật này để tạ ơn quí ngài.

Cung thỉnh quí ngài đồng lai phối hưởng.

Hoàn lễ, gia chủ kính mời quí ngài qui hồi bổn sở!

Gia chủ kính bái!

Bài cúng này cũng được dùng cho lễ gia tiên ở nhà đàng trai trước khi đi đón dâu. Người con trai phải làm lễ ở bàn thờ nhà mình, rồi khi tới nhà cô dâu cũng làm lễ gia tiên. Tùy theo nơi, có nơi kỹ hơn còn đưa cô dâu chú rể đến nhà thờ họ hai bên để làm lễ. Việc làm lễ gia tiên trước bàn thờ nhà chồng hoặc nhà vợ chính là dịp để chú rể, cô dâu trình diện với tổ tiên, nhận tổ tiên như tổ tiên nhà mình. Điều này còn có ý nghĩa đề cao vai trò trách nhiệm của dâu rể với tổ tiên dòng họ, buộc họ phải sống sao cho khỏi phụ lòng tổ tiên.

Sau lễ cáo gia tiên là lễ làng (lễ nộp cheo). Cô dâu chú rể bái lạy già làng, hoặc chức sắc trong làng và xin nộp tiền cheo để rước dâu đi. Có lễ này thì hôn nhân coi như đã được làng chứng kiến đồng thuận.

Cuối cùng là lễ hai họ và cha mẹ đôi bên rồi đến tiệc cưới mời hai họ, có làng đồng dự.

Trong ngày cưới, người ta kiêng kỵ nói chuyện chia loan rẽ thúy và rất cẩn thận trong khi dùng chén dĩa, ly tách, vì nếu lỡ làm vỡ sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc lâu bền của hôn nhân.

Sau lễ cưới là lễ nghinh dâu (rước dâu). Cô dâu nhà giàu được rước bằng kiệu, nhà trung nông thì rước bằng cáng che màn ngũ sắc, nhà vừa vừa thì bằng võng che lọng ngũ sắc, hoặc đi bộ có đội nón chụp bạc, chụp đồi mồi. Lễ này có họ nhà gái đưa dâu đến nhà trai và cũng diễn ra các lễ cáo gia tiên, lễ làng, lễ hai họ và cha mẹ đôi bên như ở lễ cưới. Tại lễ này, nhà gái thưa gởi con dâu và trao của hồi môn cho con gái cùng những lời dặn dò bịn rịn trước lúc ra về. Sau lễ nghinh hôn ba ngày, buổi sáng ngày thứ tư cô dâu được chú rể đưa về thăm nhà, người Nhơn Thành gọi là lễ hồi dâu. Lễ hồi dâu theo nghĩa "nữ tử qui ninh phụ mẫu", tức lần đầu tiên con gái về thăm cha mẹ sau ngày về nhà chồng làm dâu. Lễ vật của lễ hồi dâu là một quả bánh, thường là bánh ít.

Liên quan đến hôn nhân, ở Nhơn Thành xưa còn có lễ mừng năm cơm mới và lễ tết mừng tuổi thường niên. Các lễ này thường duy trì ba năm sau lễ cưới…

Như vậy lễ cưới xưa của người Nhơn Thành khá rườm rà và cầu kỳ. Ngày nay, thực hiện chủ trương văn hóa trong việc cưới, việc tang và lễ hội, người Nhơn Thành cũng như các địa phương khác của Bình Định đã giảm bớt nhiều bước trong lễ cưới hỏi, kể cả lễ vật và tiệc tùng; chỉ còn ba bước gồm: sơ vấn, đại nạp và lễ cưới, thậm chỉ có nhà giảm xuống còn hai bước là sơ vấn và lễ cưới. Tuy tên gọi là thế, nhưng nội dung và hình thức các lễ này cũng hiện đại và giản tiện hơn nhiều.

Còn các tục lệ như nộp cheo, lễ làng, thách cưới thì đã không còn. Song đến nay vẫn còn tục bưng quả, lại quả, hồi dâu và lễ tết mừng tuổi. Lễ tết mừng tuổi không rườm rà như xưa, mà cô dâu, chú rể chỉ về thăm cha mẹ hai bên trong ngày tết Nguyên đán là đủ. Tục lễ tạ ông mai dong cũng đã không còn. Các chàng trai, cô gái cảm thấy không thoải mái trong việc này, dù họ không còn phải mang theo lễ vật trong lễ hồi dâu hay lễ tết. Tục hồi dâu và tục tết cha mẹ là những lễ tục có giá trị trong việc ứng xử ở gia đình và kính trọng cha mẹ như tục ngữ đã nói: mùng một tết cha, mùng hai tết mẹ mùng ba tết thầy.

. Mai Thìn

 

Gửi tin này qua E-mail In thông tin Gửi phản hồi
CÁC TIN KHÁC >>
Xuân về thăm bến Trường Trầu  (11/02/2004)
Lễ hội vía Bà - Nhơn Phong  (08/02/2004)
Mấy dấu tích về Tây Sơn trên đất Quảng Ngãi   (06/02/2004)
Lên núi hoa mai vàng   (03/02/2004)
Lễ hội cầu ngư  (29/01/2004)
Triết lý bánh chưng, bánh tét  (28/01/2004)
Đầu năm du lịch đất Tây Sơn  (21/01/2004)
Hội bài chòi ngày xuân ở Bình Định  (20/01/2004)
Món "thưng" Bình Ðịnh   (19/01/2004)
Chùa cổ ở Bình Định   (18/01/2004)
Bức tranh thiên nhiên hoành tráng   (16/01/2004)
Nhớ cốm   (15/01/2004)
Xa xôi chớ vội phẩm bình mà sai  (14/01/2004)
Vua Quang Trung nhận lỗi trước dân  (13/01/2004)
Bánh tráng Bình Định  (12/01/2004)